TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 1

GẦN 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

------------------------------

Phần thứ nhất

MỘT VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN TĨNH GIA VÀ KHU KINH TẾ NGHI SƠN

Tháng 12 năm 1964, thực hiện Quyết định số 117/CP của Hội đồng Chính phủ, 7 xã của huyện Tĩnh Gia là: Trường Minh, Trường Trung, Trường Giang, Trường Sơn, Tượng Văn, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn được sát nhập về huyện Nông Cống. Năm 1965 thành lập xã Tân Trường, năm 1973 thành lập xã Phú Lâm, năm 1980 thành lập xã Phú Sơn, năm 1984 thành lập thị trấn Tĩnh Gia và chia xã Hải Thượng cũ thành 3 xã: Hải Thượng, Nghi Sơn và Hải Hà. Hiện nay, huyện Tĩnh Gia có 33 xã và 1 Thị trấn.

            Trên bản đồ Thanh Hóa, Tĩnh Gia là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh. Phía Bắc giáp huyện Quảng Xương, phía Tây giáp huyện Như Thanh, Nông Cống, phía Nam giáp huyện Quỳnh Lưu (tỉnh Nghệ An) và phía Đông là biển.

            Trung tâm huyện Tĩnh Gia cách thành phố Thanh Hóa 41 km về phía Nam. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 43.817,2 ha, trong đó đất nông nghiệp là 10.111,18 ha, đất chuyên dùng 3.315,01 ha, đất ở 939,17 ha, đất chưa sử dụng 18.476,8 ha. Dân số là 214.420 người (theo số liệu năm 2009) và mật độ bình quân là 468 người/km2. Núi đồi Tĩnh Gia tập trung chủ yếu ở phía Tây và Nam, chủ yếu là đồi trọc và một phần rừng tái sinh. Khí hậu Tĩnh Gia mang đặc trưng chung của khí hậu trong tỉnh là nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nắng nóng do ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào) và chịu ảnh hưởng lớn của mưa bão. Vùng biển Tĩnh Gia có 2 đảo lớn là Đảo Mê và đảo Nghi Sơn và một chuỗi đảo nhỏ kéo dài về phía Nam như Hòn Bung, Hòn Sở, Hòn Sập, Hòn Bảng…

            Bờ biển Tĩnh Gia tương đối bằng phẳng với 3 cửa lạch lớn: Lạch Ghép, Lạch Bạng và Lạch Hà Nẫm thường xuyên chuyển tải một lượng phù du lớn, tạo ra những ngư trường khai thác thủy hải sản hết sức thuận lợi. Hệ thống sông ngòi Tĩnh Gia gồm 3 con sông chính: sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Hà Nẫm. Ngoài ra Tĩnh Gia còn có hệ thống sông đào có từ thời Tiền Lê (thế kỷ X) với chiều dài gần 40km bắt đầu từ phía Nam sông Yên nối với sông Lạch Bạng và thông vào Nghệ An, có vị trí quan trọng trong tiêu úng và giao thông đường sông nội huyện.

Tài nguyên khoáng sản của Tĩnh Gia nổi bật là mỏ kẽm Quan Sơn (Tân Trường), sét trắng chịu lửa ở núi Bợm, sét làm gạch ở Trường Lâm, đá vôi làm xi măng và nguồn cát làm thủy tinh dọc theo bờ biển với trữ lượng hàng triệu tấn…

            Tĩnh Gia là một huyện được xác định nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Tây Nam của tỉnh Thanh Hóa và là 1 trong 15 khu kinh tế ven biển quốc gia. Cảng nước sâu Nghi Sơn nằm trong quy hoạch cảng biển quốc gia và tiềm năng trở thành cảng trung chuyển quan trọng thông thương với các địa phương trong nước và trên thế giới. Với chiều dài 32km, chạy dọc theo hướng Bắc – Nam của huyện, Quốc lộ 1A là đường giao thông huyết mạch quan trọng bậc nhất về giao thông đường bộ. Đường sắt xuyên Việt dài 29,5 km cùng với bờ biển dài 42km… đã tạo cho Tĩnh Gia có vị trí đặc biệt quan trọng trong quốc phòng và phát triển kinh tế. Cùng với hệ thống giao thông như đã nói, hệ thống đường tỉnh lộ, đường liên huyện đã tạo cho Tĩnh Gia vị thế thuận lợi trong giao lưu mọi mặt mà không phải huyện nào cũng có được.

Với điều kiện tự nhiên đa dạng, huyện Tĩnh Gia có tiềm năng phát triển kinh tế đa ngành nghề với các ngành nghề truyền thống: Nông, lâm, ngư, diệm nghiệp, đặc biệt huyện có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển như đánh bắt gần bờ, xa bờ, chế biến thủy hải sản, phát triển du lịch biển (tắm biển, du lịch đảo) kết hợp với du lịch sinh thái, tâm linh ở nhiều điểm trong huyện (Động Trường Lâm, một số chùa, đền v.v..) đồng thời mở mang công nghiệp dầu khí, sản xuất xi măng v.v.. đảm bảo cho một nền kinh tế phát triển bền vững.

            Ngày 12/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 18/2015/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Nghi Sơn. Theo đó, Khu kinh tế Nghi Sơn có diện tích gồm toàn bộ địa giới hành chính của huyện Tĩnh Gia hiện nay và sát nhập thêm 3 xã Yên Mỹ, Công Bình, Công Chính (thuộc huyện Nông Cống) và 3 xã Thanh Tân, Thanh Kỳ, Yên Lạc (thuộc huyện Như Thanh), như vậy Khu kinh tế Nghi Sơn có tổng cộng 39 xã và 1 Thị trấn. Định hướng của Chính phủ và của tỉnh Thanh Hóa đã và đang xây dựng Khu kinh tế Nghi Sơn thành khu vực phát triển công nghiệp tổng hợp đa ngành nghề.

Phần thứ hai

LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TĨNH GIA 1

Chương I

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP III TĨNH GIA TRONG NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1961 – 1975)

I. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia ra đời, những khó khăn ban đầu và hoạt động của nhà trường trong những năm 1961 - 1965

Cho đến năm 1960, huyện Tĩnh Gia cũng như nhiều huyện khác trong tỉnh chưa có trường Phổ thông cấp III, học sinh phải về Thị xã Thanh Hóa theo học trường Lam Sơn (nay là trường THPT chuyên Lam Sơn) và trường tư thục Đào Đức Thông (sau này là trường Phổ thông cấp 2 thị xã Thanh Hóa).

Tháng 7 năm 1961 theo đề nghị của Ủy ban hành chính (UBHC) huyện Tĩnh Gia, Ty giáo dục Thanh Hóa, Bộ giáo dục đã ra quyết định thành lập Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia với 2 lớp 8 và quyết định điều động thầy giáo Lê Xuân Hỷ - giáo viên lịch sử của trường Lam Sơn cùng với một số thầy giáo khác như thầy Đặng Văn Đại, Nguyễn Đức Du, Nguyễn Huy Trân,... và 1 cán bộ văn thư về huyện Tĩnh Gia làm nền móng cho việc thành lập trường.

Trong những ngày đầu thành lập, do chưa chuẩn bị được cơ sở vật chất, nhà trường đã mượn một số phòng học của trường cấp II Tĩnh Gia (nay là khu vực Huyện ủy) để làm địa điểm tuyển sinh và mở lớp, cán bộ, giáo viên dựa vào dân để có nơi nghỉ ngơi và làm việc.

Được sự quan tâm của Huyện ủy, UBHC huyện Tĩnh Gia, sự giúp đỡ của trường cấp II Tĩnh Gia, sự vượt lên khó khăn của thầy và trò, năm học đầu tiên của nhà trường đã kịp thời khai giảng, với 2 lớp học và 104 học sinh. Học sinh của nhà trường chủ yếu là con em trong huyện và một phần học sinh ở các huyện lân cận. Đây là thời kỳ nhà trường không chỉ khó khăn về cơ sở vật chất, mà còn khó khăn cả về đội ngũ cán bộ, giáo viên. Lúc này nhà trường chỉ 8 cán bộ, giáo viên, song phải đảm bảo giảng dạy đầy đủ các môn học, do đó thầy giáo dạy môn Văn phải dạy thêm môn Địa, giáo viên Vật lý phải dạy thêm môn Hóa,...

Đầu năm học, thầy Lê Xuân Hỷ được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng, quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường. Bước sang học kỳ 2 của năm học, Ty giáo dục và Huyện ủy, UBHC huyện Tĩnh Gia đã quyết định điều động đồng chí Nguyễn Văn Toàn – Huyện ủy viên, cán bộ của UBHC huyện Tĩnh Gia về trường giữ chức Hiệu trưởng, thầy Lê Xuân Hỷ làm Hiệu phó.

Hưởng ứng tích cực phong trào thi đua "Hai tốt" theo gương Bắc Lý - ngọn cờ đầu của ngành giáo dục lúc bấy giờ, thầy và trò nhà trường đã vượt qua khó khăn thử thách với những thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kết quả là 100% học sinh được lên lớp ngay trong năm học đầu tiên.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của thầy và trò nhà trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia là phải xây dựng trường lớp để không phụ thuộc vào cơ sở của trường cấp II Tĩnh Gia. Địa điểm đầu tiên được chọn xây dựng trường là khu đất nằm về phía Nam trường cấp II Tĩnh Gia (nay là cơ quan Lâm trường Tĩnh Gia). Trong bối cảnh, điều kiện kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường chỉ ở một mức độ nhất định, chủ yếu là tự thân vận động của cả thầy và trò, ban lao động của nhà trường được thành lập. Ngoài các buổi lên lớp, thầy và trò còn bố trí từ 2 - 3 buổi/tuần để lao động, với các việc như vận chuyển đất đá, san lấp mặt bằng để xây dựng lớp học. Để có nhân công kỹ thuật mộc, nhà trường còn tổ chức cho các em đi lao động đổi công cho HTX Định Công (Nguyên Bình) và để có thêm kinh phí xây dựng trường, học sinh còn phải dành thời gian lao động gây quỹ như đắp nền nhà cho các gia đình có yêu cầu, kiếm củi, đốt than để bán lấy tiền mua vật liệu, hay lên núi kiếm gỗ, tre nứa về làm, vận động phụ huynh đóng góp công sức và vật liệu như lá kè,... để dựng nên các phòng học khang trang, đảm bảo chỗ ngồi cho các em học tập. Nhân dân địa phương có nhiều câu ca hò vè về sự lao động của thầy và trò nhà trường như:

Trưa hè trời nắng chang chang

Thầy trò ông Đại đốt than dựng trường(1)

Với những nỗ lực cố gắng của thầy và trò nhà trường cùng với sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo và nhân dân địa phương, chỉ trong thời gian ngắn, 2 phòng lớp học, 1 phòng hiệu bộ, cùng với hệ thống nhà ăn, nhà bếp... bằng tranh tre đã được xây dựng, kịp thời đón khai giảng năm học 1962 - 1963.

Năm học 1962 - 1963 nhà trường có 2 lớp 8 và 2 lớp 9, đưa tổng số học sinh lên 210 em và đến năm học 1963 - 1964 có thêm 2 lớp. Như vậy đến năm học 1963 - 1964, nhà trường có đủ 3 khối (8, 9, 10) đưa số lượng học sinh lên 320 em.

Để đảm bảo cho việc dạy và học, hàng năm Ty giáo dục tăng cường cho nhà trường thêm cán bộ, giáo viên, từ 8 cán bộ giáo viên khi mới thành lập trường đến năm học 1964 – 1965 tăng lên 15 cán bộ, giáo viên, gồm: thầy Đỗ Ngọc Trân, Đặng Văn Đại dạy môn Văn, thầy Nguyễn Văn Kế, thầy Lê Đình Hoán dạy môn Sử; thầy Nguyễn Thế Vũ dạy môn Địa lý, thầy Cao Cự Hoan dạy môn Chính trị, thầy Đinh Văn Thông, thầy Nguyễn Quang Sức, thầy Hoàng Ngọc Điềm dạy môn Toán, thầy Lê Doãn Thân dạy môn Vật lý, thầy Nguyễn Thế Bảo dạy môn Sinh vật... chia làm hai tổ: Tự nhiên và Xã hội.     

    Ban giám hiệu nhà trường thời gian này có sự thay đổi, năm học 1962 - 1963, vì lý do sức khỏe, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Văn Toàn xin nghỉ công tác đi chữa bệnh, thầy Hiệu phó Lê Xuân Hỷ được giao nhiệm vụ phụ trách trường Năm học 1963 - 1964, thầy Lê Xuân Hỷ được Ty giáo dục điều về Quảng Xương công tác, thầy Ngô Thiên Tứ được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng.

Bước sang năm học 1964 - 1965, trên cơ sở trường dòng ở Ba Làng (xã Hải Thanh) còn đang bỏ trống, đồng thời để tạo sự ảnh hưởng của một trung tâm giáo dục – khoa học – văn hóa tới vùng công giáo toàn tòng, UBHC huyện Tĩnh Gia đã quyết định, di chuyển vị trí của trường xuống Khu tiểu chủng viện Ba Làng. Về đây, nhà trường được thừa hưởng một cơ sở vật chất đàng hoàng hơn, song trường lớp đã có phần xuống cấp. Được sự hỗ trợ của Nhà nước, thầy và trò lại một lần nữa tiếp tục công việc sửa chữa, tu bổ trường lớp, để đảm bảo cho việc dạy và học. Ngoài các buổi học văn hóa, thầy và trò nhà trường đã giành 2 buổi trong tuần để vận chuyển gạch từ Thổ Sơn (Nguyên Bình) về Ba Làng (Hải Thanh). Chỉ bằng các phương tiện thô sơ như xe thồ, thuyền, gánh, khiêng, nhưng với sự nhiệt tình và tích cực của cả thầy và trò, chỉ trong thời gian ngắn 5 vạn gạch ngói đã được chuyển về Ba Làng đáp ứng kịp thời cho việc tu bổ lại trường lớp.

Năm học 1964 - 1965, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia vẫn duy trì 6 lớp, với 287 học sinh (2 lớp 8; 2 lớp 9; 2 lớp 10). Ban giám hiệu nhà trường có sự thay đổi, thầy Ngô Thiên Tứ được Ty giáo dục điều đi nhận nhiệm vụ mới, thầy Nguyễn Quang Sức được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng.

Cùng với sự phát triển của số lớp học, đội ngũ giáo viên tiếp tục được bổ sung, năm học 1964 - 1965 nhà trường có thêm các thầy Nguyễn Ngọc Cẩn, Lê Tiến Biên, Lê Văn Tộ, và đồng chí Nguyễn Thất bảo vệ, đưa tổng số cán bộ, giáo viên nhà trường lên 17 người.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, giữa lúc thầy và trò nhà trường hăng say lao động và học tập, đế quốc Mỹ đã gây ra sự kiện "Vịnh Bắc Bộ" tiến hành đánh phá một số tỉnh vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam, như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình... Trước sự đánh phá của đế quốc Mỹ, các hoạt động của nhà trường bị xáo trộn, để đảm bảo an toàn tính mạng cho thầy và trò nhà trường, lịch học đã được bố trí linh hoạt có ngày học từ 4 giờ cho đến 9 giờ sáng, từ 6 giờ tối cho đến 11 giờ đêm. Ngoài việc giảng dạy và học tập, thầy và trò nhà trường còn cùng với nhân dân địa phương tổ chức tuần tra canh gác phòng chống biệt kích, tiếp tục tu bổ lại trường lớp để nhanh chóng hoàn thành, đảm bảo đủ chỗ cho 6 lớp học 1 ca, ngoài ra còn có nhà để làm văn phòng, khu nhà ở cho giáo viên, có sân bóng chuyền, sân chơi. Trang thiết bị thí nghiệm, đồ dùng học tập thường xuyên được Bộ giáo dục cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc dạy và học của thầy và trò nhà trường. Cùng với việc bổ sung đồ dùng thí nghiệm cho nhà trường, sách cho thư viện cũng được tăng cường, nhất là sách giáo khoa.

Sau 5 năm thành lập và xây dựng (1961 - 1965), trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia từ chỗ phải mượn địa điểm để thành lập trường, đến năm học 1964 - 1965, đã có một cơ sở vật chất vững vàng, đảm bảo chỗ ngồi học cho học sinh, cũng như chỗ ăn ở làm việc của tập thể cán bộ, giáo viên. Trong buổi đầu có nhiều khó khăn, cả thầy và trò nhà trường đã nỗ lực vươn lên vừa hoàn thành nhiệm vụ dạy và học, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ lao động xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. Số lượng cán bộ, giáo viên của nhà trường khi mới thành lập mới chỉ có 8 người, đến năm 1964 là 15 người. Số lượng học sinh ngày một phát triển, tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng lên, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp đạt gần 90%, chỉ tính riêng khóa học 1962 - 1965, có 83 học sinh tốt nghiệp, có tới 42 học sinh thi đậu vào các trường đại học trong và ngoài nước. Sau này nhiều người đã phát triển lên có học hàm, học vị là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ và giữ các chức vụ cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, nhà máy, xí nghiệp,...

II. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia thời kỳ 1965 - 1975

1.Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia, sau là Tĩnh Gia 1 phấn đầu hoàn thành nhiệm vụ giáo dục toàn diện, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, trong điều kiện có chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 - 1968).

Bị thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ đã thay đổi chiến lược sang “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và tiến hành sử dụng không quân và hải quân đánh phá Miền Bắc. Ngày 6 tháng 3 năm 1965, đế quốc Mỹ đã cho máy bay đánh phá trên địa bàn huyện Tĩnh Gia bằng rốc két, bom, đạn 20 ly... mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại trên địa bàn huyện, với dã tâm "đẩy lùi Miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá".

Trước tình hình trên, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia được lệnh sơ tán đến xã Nguyên Bình và Ngọc Lĩnh để tiếp tục nhiệm vụ giáo dục, đảm bảo an toàn cho tính mạng của cả thầy và trò. Thực hiện quyết định trên, nhà trường đã phân ra làm 2 phân hiệu: phân hiệu A đóng ở xã Nguyên Bình do thầy Hiệu trưởng Nguyễn Quang Sức quản lý; phân hiệu B đóng ở Ngọc Lĩnh thầy Lê Tiến Biên - thư ký Hội đồng phụ trách. Để đảm bảo chất lượng dạy và học, một khối lượng lớn cơ sở vật chất của nhà trường như bàn ghế, bảng viết, đồ dùng thí nghiệm, sách vở, tài liệu hồ sơ, phương tiện, các vật dụng khác phục vụ cho việc ăn nghỉ, công tác và học tập của thầy và trò, được sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh đã nhanh chóng chuyển đến nơi sơ tán. Trong đợt sơ tán này, đồng chí Nguyễn Thất được cử ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ trường, trong một lần đánh phá ác liệt của giặc Mỹ, đồng chí Nguyễn Thất đã hy sinh, để lại niềm thương tiếc vô hạn của cả thầy và trò nhà trường.

Sơ tán về Nguyên Bình và Ngọc Lĩnh, bước đầu nhà trường đã phải mượn kho của HTX để làm nơi học, học dưới tán cây. Nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cả giáo viên và học sinh, thực hiện khẩu hiệu “chưa có hầm hào tốt chưa giảng dạy”, “Thà tốn công sức hơn tốn máu” nên chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều lán học đã được được thầy và trò, phụ huynh học sinh, nhân dân trong vùng xây dựng bằng tranh tre, nứa lá, các lán học được đào sâu xuống lòng đất khoảng 1m, xung quanh có giao thông hào, thành lũy và hố cá nhân được nối liền với nhau, bên trên lán đều được gác tre gỗ và cho thêm một lớp rơm rạ để phòng bom bi và các loại mảnh bom bay đến. Các lớp học nằm cách xa nhau vừa đủ an toàn ngoài tầm phá hoại của một quả bom, đồng thời vừa đủ thời gian đổi tiết dạy của giáo viên. Học sinh đi học đều đội mũ rơm để đề phòng mảnh bom đạn.

   Trong thời gian này, do chia thành 2 phân hiệu, số lượng giáo viên ở nhiều bộ môn thiếu, nhưng với quyết tâm “tất cả vì học sinh thân yêu” nhiều thầy cô giáo thường xuyên đi qua các trọng điểm bắn phá của giặc Mỹ như cầu Hang, cầu Kênh để dạy học.

Thực hiện chủ trương của Bộ giáo dục, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia đã áp dụng chương trình B (Chương trình dành cho các tỉnh bị bắn phá ác liệt, thường xuyên) vào giảng dạy. Mặc dù học chương trình B, nhưng nội dung chính vẫn được đảm bảo như chương trình A để đảm bảo chất lượng khi thi lên lớp và thi tốt nghiệp.

Đến năm 1967, trước sự phát triển của số lượng học sinh, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày càng diễn ra ác liệt, đồng thời cũng là yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục ở huyện nhà, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia được Bộ giáo dục và UBHC tỉnh Thanh Hóa đã quyết định chia tách thành 2 trường: Phân hiệu A là trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1, phân hiệu B là trường cấp III Tĩnh Gia 2. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 do thầy Nguyễn Quang Sức làm Hiệu trưởng. Do chia tách trường nên số lượng cán bộ, giáo viên và quy mô giáo dục có phần giảm đi. Tổng số cán bộ, giáo viên đến thời điểm chia tách trường là 21 người, có 11 lớp học (4 lớp 8, 5 lớp 9, 2 lớp 10). Trong thời gian này, học sinh của nhà trường chủ yếu là các xã từ Ninh Hải trở vào.

Sau khi tách trường, bộ máy gọn nhẹ, địa điểm rộng rãi, nhưng kín đáo, nên nhà trường đã tiếp tục duy trì tốt việc dạy và học, thu hút học sinh vào học. Năm học 1967 - 1968 có 11 lớp, với 570 học sinh (4 lớp 8, 5 lớp 9, 2 lớp 10); năm học 1968 - 1969 có 13 lớp với 665 học sinh (4 lớp 8, 4 lớp 9, 5 lớp 10). Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, tỷ lệ đậu tốt nghiệp đạt 90%, vào đại học, cao đẳng luôn duy trì ở mức cao. Có nhiều học sinh giỏi cấp tỉnh, trong đó tiêu biểu là học sinh Hồ Sĩ Hưng - giải nhất môn Văn. Các tổ nhóm đi vào hoạt động ổn định, việc thăm lớp dự giờ đã được chú ý.

Năm 1968, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Quang Sức được điều về Trường Sư phạm Tỉnh công tác, thầy Nguyễn Ngọc Cẩn được cử phụ trách nhà trường.

2. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 tiếp tục thi đua dạy tốt - học tốt trong thời kỳ 1969 – 1973

Những năm 1969 đến cuối 1972, Tĩnh Gia là một trong những trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ, do đó cơ sở vật chất kỹ thuật của cả huyện bị bom đạn tàn phá nặng nề,...Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 không tránh khỏi tình cảnh đó.

Đầu năm 1970, UBHC huyện có chủ trương di chuyển địa điểm nhà trường trở lại phố Còng. Kể từ hè năm 1970, một khối lượng lớn về bàn ghế, sách vở, dụng cụ học tập và các đồ dùng khác được thầy và trò nhà trường chuyển từ núi Nguyền (thôn Nổ Giáp, xã Nguyên Bình) về phố Còng. Thầy và trò nhà trường lại một lần nữa bắt tay vào xây dựng trường lớp và chỉ trong một thời gian ngắn 15 phòng học, 10 gian nhà ở cho giáo viên, nhà ăn tập thể của nhà trường đã mọc lên, đảm bảo đủ chỗ ngồi cho học sinh học tập và cho cán bộ, giáo viên nghỉ ngơi, sinh hoạt và làm việc.

Đến năm 1970, ngoài sự thuyên chuyển, bổ sung đội ngũ cán bộ, giáo viên Ban giám hiệu có sự thay đổi. Thầy Hiệu phó Nguyễn Ngọc Cẩn phụ trách nhà trường được chuyển về Phòng giáo dục huyện Tĩnh Gia làm trưởng phòng, thầy Lê Hữu Loạt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, thầy Nguyễn Danh San được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng.

Mặc dù chia tách trường, phân vùng đào tạo, nhưng số lượng học sinh đến lớp mỗi năm một tăng: năm học 1969 - 1970 có 12 lớp với 638 học sinh; năm học 1970 - 1971 có 11 lớp với 640 học sinh; đến năm học 1971 - 1972 phát triển lên 12 lớp với 650 học sinh; năm học 1972 -1973 có 15 lớp với 780 học sinh.

Tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 với các loại phương tiện, vũ khí tối tân như máy bay B52, bom lade... Ngày 27 tháng 4 năm 1972, máy bay Mỹ đã thả bom xuống trường làm cho một số thầy cô giáo bị thương nhẹ. Tuy nhiên, lúc này học sinh nhà trường đang thi tiến ích học kỳ ở trường cấp 1 - 2 xã Hải Hòa nên đã được an toàn.

Trước tình hình trên, để đảm bảo an toàn cho thầy và trò, UBHC huyện Tĩnh Gia và Ty giáo dục Thanh Hóa đã quyết định sơ tán trường ra khỏi vùng trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ. Trong tình hình có chiến tranh, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 lại được tách ra làm 2 phân hiệu: phân hiệu 1 nằm ở xã Tĩnh Hải do thầy Hiệu trưởng Lê Hữu Loạt phụ trách, phân hiệu 2 nằm ở xã Nguyên Bình do thầy Phó Hiệu trưởng Nguyễn Danh San phụ trách. Sau khi chia tách phân hiệu, một số bộ môn không đủ giáo viên, nên nhiều thầy cô giáo phải đi lại hai nơi để giảng dạy. Bởi vậy thời khóa biểu, kế hoạch giảng dạy trong thời gian này đã phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện có chiến tranh.

Để nhanh chóng chuyển về nơi sơ tán, xây dựng lán học, được sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh học sinh, nhân dân xung quanh nơi sơ tán về phương tiện vận chuyển như thuyền, xe cải tiến và nhân lực để chuyển bàn ghế, sách vở, đồ dùng học tập, đồ dùng sinh hoạt về nơi sơ tán. Ngoài ra, các bậc phụ huynh ở các xã Tĩnh Hải, Hải Yến, Nguyên Bình còn đóng góp vật liệu và công sức dựng lên các lán học, để kịp thời đón học sinh vào năm học mới 1972 – 1973.

Thời gian này chưa có cống Lạch Bạng, nên qua Hải Bình và đi qua vùng tứ hải phải qua đò Du Độ. Nên việc họp hành của Hội đồng giáo dục, chi bộ Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên cũng phải linh hoạt, giảm thiểu số lần đi lại, kỳ này họp khu A, kỳ sau họp khu B. Ở nơi sơ tán, các lán học có lũy bao bọc, làm tốt công tác phòng tránh, song do máy bay Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt, vì vậy UBHC tỉnh và UBHC huyện Tĩnh Gia đã quyết định phải dừng học kỳ 1 của năm học 1972 - 1973 thời gian trước 2 tháng, chương trình còn lại của học kỳ 1 được chuyển sang học kỳ 2.

Trong những năm 1971 - 1972 để bổ sung thêm cho lực lượng quân đội, nhiều thầy giáo và học sinh nhà trường đã tạm gác việc giảng dạy – học tập để lên đường nhập ngũ để đánh giặc như các thầy Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thế Mười, Phan Bình, Phùng Văn Cương, nhiều người đã hy sinh một phần xương máu vì độc lập dân tộc.

3. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 khắc phục hậu quả chiến tranh, xây cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học 1973 - 1975

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari về chấm dứt vô điều kiện việc đánh phá Miền Bắc, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Miền Nam Việt Nam.

Sau khi hòa bình lập lại, trường được lệnh chuyển từ nơi sơ tán về địa điểm cũ (phố Còng). Trở lại nơi đây, trên một mảnh đất dày đặc các hố đạn pháo, thầy và trò nhà trường đã bỏ nhiều ngày công san lấp mặt bằng dựng lại lớp học, để tiếp tục học nốt chương trình của kỳ 1 và của cả học kỳ 2, bởi vậy năm học 1972 – 1973 thời gian kết thúc năm học được kéo dài đến tháng 8, song kết quả giáo dục và đào tạo khá khả quan, tỷ lệ học lên lớp và đậu tốt nghiệp đạt 95%, nhiều học sinh đã đậu vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.

Để đảm bảo cho việc dạy và học, cũng như vị thế của một trường cấp III trong huyện, với phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm", năm 1973, được sự hỗ trợ của cấp trên, nhà trường bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất gồm 8 phòng học, 9 gian văn phòng, khu nhà ở cho giáo viên, cùng với các công trình khác như cổng trường, nhà bếp, nhà ăn,...

Để có được một cơ sở vật chất như vậy, ngoài sự hỗ trợ về kinh phí của Nhà nước, còn có sự hỗ trợ về nguyên vật liệu, nhân công của các HTX kết nghĩa, vôi là của HTX Tân Trường, gạch là của HTX Hải Hòa, Nguyên Bình, về công thợ của HTX Mai Lâm. Đặc biệt là không thể thiếu được công sức của thầy và trò nhà trường, điển hình là các thầy Lê Hữu Loạt, thầy Nguyễn Huy Tuất, thầy Lê Đình Bính, thầy Hoàng Minh Ánh… các bậc phụ huynh Nguyễn Hữu Nho, Hà Trọng Hương... đã dành thời gian hàng tháng trời đưa bè luồng, gỗ từ Công ty Lâm Thổ sản ra thị xã Thanh Hóa để thuê xẻ, rồi lại đóng thành bè chuyển về trường để xây dựng. Những năm sau đó, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường. Cùng với xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học ngày càng được bổ sung góp phần hoàn thành nhiệm vụ dạy và học của nhà trường.

Trong tình hình mới, số học sinh đến trường mỗi ngày một tăng, năm học 1973 - 1974, có 850 học sinh, chia làm 16 lớp; năm học 1974 - 1975 tăng lên 18 lớp với tổng số học sinh là 934 em.

Thời gian này Ban giám hiệu nhà trường có sự thay đổi, thầy Lê Hữu Loạt có quyết định nghỉ hưu, thầy Nguyễn Danh San được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng.

 

Chương II

TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP III TĨNH GIA 1 TỪ NGÀY THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1975 – 1991)

I. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 sau ngày thống nhất đất nước (1975 -1979)

Năm 1976, tranh thủ sự tài trợ của tổ chức UNICEF, UBND tỉnh Thanh Hóa đã quyết định đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nhà trường gồm 2 nhà lớp học 2 tầng, với 16 phòng học và nhà lớp học 1 tầng với 6 phòng học, cùng với nhà chức năng khác như văn phòng, thư viện, và các công trình vệ sinh, cổng, tường rào... do Viện quy hoạch Thanh Hóa khảo sát thiết kế, công ty xây dựng I (nay là Công ty Sông Mã) và Đội xây dựng của huyện thi công. Công trình thi công đảm bảo tiến độ và đảm bảo chất lượng, được nhà trường đưa vào sử dụng từ năm học 1978 - 1979.

Trong quá trình hoạt động nhà trường luôn thực hiện phương châm giáo dục gắn liền với lao động sản xuất, ngoài giờ học thầy và trò đã tham gia lao động xây dựng trường lớp, bằng việc vận chuyển đá hộc từ xã Nguyên Bình về xây dựng, chở đất về san lấp mặt bằng cho khuôn viên nhà trường, bằng các phương tiện vận chuyển thô sơ như xe thồ, xe kiến an, quang gánh, thầy và trò nhà trường đã đưa hàng trăm m3 đá và hàng nghìn m3 đất, góp phần cùng Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. Ngoài tham gia xây dựng trường lớp thầy và trò nhà trường còn tham gia lao động công ích, như giúp HTX Nguyên Bình đào mương tưới tiêu trong những năm (1978 - 1979), làm đường giao thông ở phố Còng, xã Hải Thanh trong những năm (1979 - 1980), đồng thời tổ chức trồng cây trong và ngoài sân trường, sửa chữa bàn ghế...

Cùng với sự phát triển, xây dựng cơ sở vật chất từ năm 1975 đến năm 1979, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 đã thu hút học sinh vào học ngày một nhiều, năm học 1975 - 1976 có 20 lớp với 934 học sinh; năm học 1976 - 1977 có 22 lớp với 1050 học sinh; năm học 1977 - 1978 có 24 lớp với 1068 học sinh và năm học 1978 - 1979 có 26 lớp với 1205 học sinh.

Trong điều kiện mới, ngoài giáo dục phổ thông, nhà trường lại tiếp tục tuyển sinh hệ bổ túc văn hóa cho đội ngũ cán bộ, công nhân, lực lượng vũ trang và tầng lớp thanh niên tham gia học tập, đồng thời còn mở các lớp bồi dưỡng văn hóa cho gần 100 giáo viên cấp I lên trình độ trung cấp sư phạm. Để tạo thuận lợi cho người học, ngoài mở các lớp tại trường, còn mở nhiều lớp ở xã Hải Yến và xã Tân Trường. Nhiều học sinh hệ bổ túc văn hóa của nhà trường sau khi học xong đã thi đỗ tốt nghiệp và thi vào các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, tiếp tục công tác.

Song song với sự phát triển về quy mô trường lớp, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên hàng năm, tỷ lệ lên lớp bình quân đạt 95%, tỷ lệ tốt nghiệp bình quân 85%, tỷ lệ bỏ học ở mức 1% -1,5% và có nhiều học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.

Trong thời gian này, Hiệu trưởng là thầy Nguyễn Danh San, thầy Đỗ Văn Huynh là Hiệu phó, đến năm 1977 cấp trên lại tăng cường cho nhà trường thêm một Hiệu phó là thầy Đỗ Xuân Bửu. Đội ngũ cán bộ giáo viên mới dần dần thay thế đội ngũ giáo viên lớp trước, trong đó nhiều thầy, cô giáo vốn là học trò cũ của nhà trường. Năm 1979, tổng số cán bộ, giáo viên có 65 người.

Thời kỳ này, nhiều học sinh nhà trường đã gác lại việc học hành để lên đường nhập ngũ, chiến đấu ở các chiến trường Tây Nam chống quân Pôn Pốt và biên giới phía Bắc chống quân xâm lược bành trướng Trung Quốc.

II. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 phát huy những thành tích đạt được, khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập (1979 - 1985)

Từ cuối những năm 70 đến những năm đầu 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế xã hội của đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, nền kinh tế quốc dân mất tự chủ, sản xuất cầm chừng, cung không đủ cầu, thị trường vật giá, tài chính luôn biến động... đã ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, trong đó có đội ngũ cán bộ giáo viên.

Đến năm 1980, tổng số cán bộ, giáo viên của trường là 84 người. Ban giám hiệu thời gian này có sự thay đổi, năm 1979 thầy Nguyễn Danh San do điều kiện sức khỏe xin nghỉ đi chữa bệnh, thầy Đỗ Văn Huynh Hiệu phó nhà trường quyền Hiệu trưởng. Năm 1981 thầy Nguyễn Duy Khánh là Hiệu trưởng trường cấp III Hoằng Hóa 2 được điều về giữ chức Hiệu trưởng nhà trường. Phó Hiệu trưởng nhà trường là các thầy Đỗ Xuân Bửu, Trịnh Thanh Sơn, đến năm 1984 thầy Đỗ Văn Huynh được điều động về trường Phổ thông cấp III Hoằng Hóa 2 giữ chức Hiệu phó, năm 1985 thầy Lê Đức Thứ được điều động về làm Hiệu phó nhà trường.

   Thời gian này, học sinh đến trường luôn được giữ ổn định. Năm học 1979 -1980 có 28 lớp với 1220 học sinh (10 lớp 10, 10 lớp 11, 8 lớp 12), đây là khóa học đầu tiên thực hiện chương trình phổ thông trung học gồm các lớp 10, 11, 12; năm học 1980 – 1981 có 33 lớp với 1456 học sinh; năm học 1981 - 1982 có 31 lớp với 1436 học sinh; năm học 1982 - 1983 có 30 lớp với 1360 học sinh; năm học 1983 - 1984 có 30 lớp với 1380 học sinh; năm học 1984 - 1985 có 30 lớp với 1320 học sinh. Tiếp tục thực hiện công tác bổ túc văn hóa, nhà trường đã đẩy mạnh hoạt động, do đó hàng năm nhà trường có thêm gần 10 lớp bổ túc văn hóa.

Trong thời kỳ này, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đoàn trường đã tiến hành phát động đợt sinh hoạt tư tưởng "Hành quân theo bước chân những người anh hùng" và cuộc thi tìm hiểu "Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng" đã được đông đảo đoàn viên trong trường hưởng ứng, nhiều bài tham gia đạt chất lượng, đạt giải cao. Đồng thời đẩy mạnh phong trào "Ba xung kích làm chủ tập thể" nhằm phát huy tinh thần xung kích trong thanh niên thực hiện ba nhiệm vụ chính là lao động sản xuất, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, học tập rèn luyện và xây dựng cuộc sống mới. Phong trào thi đua xây dựng tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa và tập thể giáo viên, xã hội chủ nghĩa tiếp tục đẩy mạnh. Năm 1986, tổng kết 10 năm thực hiện phong trào xây dựng tập thể xã hội chủ nghĩa (1976 - 1986) nhà trường đã có nhiều tập thể được công nhận.

Cùng với việc tham gia lao động tại chỗ, sản xuất nông nghiệp, thầy và trò nhà trường còn tham gia lao động công ích như giúp các xã Hải Nhân, Xuân Lâm làm thủy lợi nội đồng vào các năm (1981 - 1982), làm công trình thủy lợi ở đồng muối Hải Hòa (1983 - 1984), Bãi Ngọc (1984 - 1985), đê đồng muối Hải Bình (1986) do huyện điều động.

III. Trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 trong thời kỳ đầu đổi mới (1986 – 1991)

Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đã đề ra các quan điểm, chủ trương đổi mới, trong đó có đổi mới về giáo dục đào tạo, làm tốt điều đó sẽ là bước ngoặt trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Sau khi thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 theo quy định chung, trường Phổ thông cấp III Tĩnh Gia 1 được đổi thành trường Phổ thông trung học Tĩnh Gia 1.

Kể từ năm học 1986, do tình hình kinh tế - xã hội có rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân, nhiều học sinh đã phải bỏ học, Trường Phổ thông Trung học Tĩnh Gia 1 không nằm ngoài tình hình chung đó. Năm học 1985 -1986 có 30 lớp với 1310 học sinh, đến năm học 1989 - 1990 số lượng học sinh giảm xuống chỉ còn 843 em và được phân chia ở 24 lớp. Tổng số cán bộ, giáo viên là 80 người.

Thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường đã tổ chức cho học sinh lao động công ích phục vụ địa phương bằng việc làm đường giao thông, lao động gây quỹ như đắp đê đồng muối ở Hải Bình đã thu về gần 7 triệu đồng góp phần vào việc tu sửa cơ sở vật chất, bổ sung đồ dùng dạy học. Ngoài ra từ năm 1986 đến năm 1990, học sinh còn lao động xây dựng trường như đắp đường, làm sân bãi, vận chuyển hàng trăm khối cát về trường để sửa chữa trường lớp do thiên tai, đặc biệt là việc khôi phục thiệt hại nặng nề do cơn bão số 6 gây ra (6/1989), đảm bảo đủ cho ngồi học tập.

Bước vào năm học 1990 - 1991, được sự đồng ý của UBND tỉnh và Sở giáo dục vào đào tạo Thanh Hóa. Huyện Tĩnh Gia tiến hành thành lập trường cấp II - III Tĩnh Gia, địa điểm đặt trường ở Hải Yến, trên cơ sở chia tách trường Tĩnh Gia 1. Để nhà trường nhanh chóng đi vào hoạt động, một bộ phận giáo viên và số lượng học sinh đang học trường PTTH Tĩnh Gia 1, cùng với học sinh lớp 9 ở các xã Hải Bình, Tĩnh Hải, Hải Yến, Hải Hà, Hải Thượng, Nghi Sơn, Mai Lâm, Tùng Lâm, Tân Trường và Trường Lâm về xã Hải Yến để mở trường. Thầy Hiệu phó Lê Đức Thứ được phân công về phụ trách trường cấp II – III Tĩnh Gia.

Đến năm học 1990 - 1991, do thực hiện việc chuyển cấp và yêu cầu về chất lượng trong cải cách giáo dục, nên có sự hụt hẫng về số lượng học sinh, tổng số lớp học của nhà trường lúc này ở cả hai phân hiệu có tổng số 21 lớp trong đó có 3 lớp 9, số lượng tuyển sinh vào trường giảm đi hơn một nửa so với những năm trước (4 lớp 10, 6 lớp 11, 8 lớp 12).

Năm 1991, sau 30 năm xây dựng và phát triển, trường PTTH Tĩnh Gia 1 được sự đồng ý của Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa, Huyện ủy, UBND huyện Tĩnh Gia đã tổ chức kỷ niệm 30 năm thành lập trường (1961 - 1991) và đón nhận Huân chương lao động hạng Ba do Chủ tịch nước trao tặng.

Tổng kết 30 năm hoạt động (1961 - 1991), nhà trường đã đào tạo được 28 khóa học, với 7.559 học sinh tốt nghiệp Trung học Phổ thông, hàng trăm học sinh tốt nghiệp lớp 10 hệ bổ túc văn hóa, bồi dưỡng trình độ văn hóa cho gần 100 giáo viên cấp 1. Sau khi ra trường, có 1.444 học sinh tham gia lực lượng vũ trang, trong đó có 57 người hy sinh vì Tổ quốc, 128 người đã đề lại một phần xương máu nơi chiến trường và nhiều người đã trở thành sĩ quan có quân hàm cấp tá là 45, cấp úy là 346; cán bộ thoát ly 3532 (công nhân có 691, 1.124 có trình độ trung cấp, 633 người có trình độ đại học, trên đại học co 18 người, trong đó có một số người có học vị là Tiến sĩ); Cán bộ, lao động sản xuất ở địa phương (kể cả những người thoát ly về địa phương) là 3.843 người, trong đó có 317 người là cán bộ xã, Bí thư, Chủ tịch ủy ban nhân dân, Đảng ủy viên, Bí thư Đoàn thanh niên, chủ nhiệm HTX. Trong quá trình công tác, lao động nhiều người đã trưởng thành, trong đó nhiều người có học vị là Tiến sĩ, giữ các chức vụ lãnh đạo ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đã có nhiều cống hiến cho quê hương đất nước.

Từ ngày đầu thành lập nhà trường chỉ có 8 cán bộ, giáo viên, 2 lớp học, cơ sở vật chất chưa có gì, phải di chuyển địa điểm nhà trường đến nhiều nơi khác nhau, đến năm 1991, nhà trường đã có 80 cán bộ - giáo viên, cơ sở vật chất khang trang, có 16 phòng nhà lớp học hai tầng, 3 dãy phòng học cấp 4A, đảm bảo cho hơn 30 lớp học 1 ca và nhiều công trình phụ trợ khác.

Chương III

TRƯỜNG PTTH TĨNH GIA 1 THỰC HIỆN MẠNH MẼ ĐƯỜNG LỐI

 PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC (1991 – đến nay)

I. Trường PTTH Tĩnh Gia 1 tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục (1991 - 1995)

Đến năm 1991, trên địa bàn huyện Tĩnh Gia đã có 3 trường PTTH, trường PTTH Tĩnh Gia 1 có nhiệm vụ giáo dục học sinh ở thị trấn Tĩnh Gia, các xã Nguyên Bình, Hải Hòa, Hải Nhân, Hải Thanh, Hải Bình, Ninh Hải,...

Thời gian nay, do sự phát triển của hệ thống trường Phổ thông Trung học, nên quy mô giáo dục ngày dần được nâng lên. Năm học 1991-1992, do có sự chia tách trường, nên trường cấp III Tĩnh Gia 1 lúc này chỉ còn 13 lớp ở cả 3 khối học (5 lớp 10, 3 lớp 11, 5 lớp 12) với 480 học sinh tăng dần đến năm học 1994 – 1995 có 17 lớp, với 827 học sinh.   

  Do có sự chia tách trường và số lượng học sinh phát triển chậm, nên đội ngũ giáo viên nhà trường đã có sự biến động, năm học 1990 - 1991 từ 79 cán bộ, giáo viên xuống còn 52 cán bộ, giáo viên ở năm học 1991 - 1992, đến năm học 1992 – 1993 xuống còn 46, năm học 1993 -1994 là 42 và đến năm học 1994 - 1995 còn 39 cán bộ giáo viên.

Hiệu trưởng nhà trường đến năm 1993 là thầy Nguyễn Duy Khánh (sau đó là thầy Trịnh Thanh Sơn từ 1994). Hiệu phó nhà trường thời gian này là các thầy Đỗ Xuân Bửu, Trịnh Thanh Sơn (1993). Thầy Nguyễn Duy Khánh vinh dự được Nhàn nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú (1994)

II. Trường Phổ thông trung học Tĩnh Gia 1 đẩy mạnh chiến lược giáo dục quốc gia trong những năm (1995 - 2000)

Ban giám hiệu nhà trường tiếp tục được củng cố, thời gian này thầy Trịnh Thanh Sơn tiếp tục giữ chức Hiệu trưởng nhà trường, Phó Hiệu trưởng nhà trường là các thầy Đỗ Xuân Bửu, thầy Nguyễn Mạnh Hải.

Trong thời gian này, quy mô nhà trường có sự phát triển cả về số lớp và số lượng học sinh. Từ 19 lớp với 971 học sinh ở năm học 1995 – 1996, đến năm học 1999 - 2000 phát triển lên 33 lớp với 1.720 học sinh (kể cả học sinh hệ bán công).

Với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến năm 2000 trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 đã có một cơ sở vật chất khá khang trang. Ngoài 2 dãy nhà hai tầng do UNICEP tài trợ từ năm 1977, nhà trường đã có thêm 1 dãy nhà hai tầng, gồm 10 phòng học và các nhà chức năng khác như nhà làm việc của Ban giám hiệu, phòng truyền thống, thư viện, hội trường, văn phòng nhà trường (loại cấp 4A). Với một cơ sở vật chất như vậy nhà trường đã đáp ứng nhu cầu dạy và học, sinh hoạt tập thể cho gần 2000 cán bộ, giáo viên và học sinh.

Với những thành tích đạt được trong mọi mặt công tác, từ năm 1995-2000, trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp tỉnh, được Bộ giáo dục tặng nhiều Bằng khen. Trong đó có bằng khen là đơn vị xuất sắc trong 5 năm 1996 - 2000 về công tác giáo dục thể chất, được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2000).

III. Trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2000 - 2005)

Năm 2001, theo chủ trương của ngành, nhà trường tách các khối lớp hệ bán công để thành lập trường Trung học Phổ thông Bán công Tĩnh Gia. Như vậy đến năm học 2001 - 2002, trường THPT Tĩnh Gia 1 không còn tuyển sinh hệ bán công, song vẫn duy trì giảng dạy các lớp bán công ở khối 11, 12. Năm học này toàn trường có 36 lớp, trong đó có 26 lớp công lập với 1340 học sinh và 10 lớp bán công với 510 học sinh.

IV. Trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục, tiến hành xây dựng trường chuẩn quốc gia (2005 - 2011)

Để duy trì và đưa sự nghiệp giáo dục của nhà trường lên một tầm cao mới, ngay từ đầu năm học 2005 - 2006, trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 đã xác định mục tiêu xây dựng trường chuẩn quốc gia, phấn đấu đến năm 2010 được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất.

Ban giám hiệu nhà trường dần ngày càng được trẻ hoá, có trình độ chuyên môn cao, trình độ lý luận nghiệp vụ vững vàng. Hiệu trưởng là thầy Trịnh Thanh Sơn (thầy Hà Trọng Tân từ tháng 5/2007); Phó Hiệu trưởng thầy Nguyễn Mạnh Hải, thầy Đào Duy Khuê; thầy Mai Hồng Thái, cô Nguyễn Thị Hà (từ 2008); thầy Nguyễn Văn Hữu (từ 2011), thầy Nguyễn Hồng Quân (từ 2017).

Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường thường xuyên được bổ sung và phát triển. Năm 2005 có 77 cán bộ giáo viên, đến năm 2008 phát triển lên 90 cán bộ, giáo viên, đến năm 2010 tổng số cán bộ giáo viên là 96 người, 100% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 10 giáo viên trên chuẩn. Nhà trường đã kịp thời bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu chương trình đổi mới SGK cấp THPT do Bộ GD & ĐT triển khai từ năm học 2006 - 2007

Bằng sự quyết tâm và nỗ lực của tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh của nhà trường, kế hoạch các năm học đề ra đã được thực hiện đạt những kết quả xuất sắc: năm học 2005 - 2006 trường có 32 học sinh giỏi tỉnh về các môn văn hoá, 4 giải tỉnh về TDTT và quốc phòng, có 85 học sinh giỏi cấp trường về các môn văn hoá; năm học 2007 – 2008 có 39 đạt giải thi học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh (2 nhì, 8 ba, 29 khuyến khích), 10 học sinh đạt giải máy tính cầm tay Casio (trong đó có 1 giải khuyến khích quốc gia, 4 giải nhì, 2 giải ba và 3 khuyến khích của tỉnh), 5 học sinh đạt giải GD - QP cấp tỉnh, 5 học sinh đạt giải thi Hội khoẻ Phù Đổng; năm học 2009 - 2010, có 65 học sinh đạt giải thi học sinh giỏi cấp tỉnh, 11 học sinh đạt giải máy tính cầm tay casino cấp tỉnh; 2 giải TDTT cấp tỉnh, 4 học sinh đạt giải quốc phòng - an ninh. Học sinh Lê Xuân Trung được Trung ương Đoàn tặng giải thưởng “Lý Tự Trọng” (năm học 2005 – 2006), học sinh Phạm Minh Tâm đạt giải ba chung kết năm “Âm vang xứ Thanh” (năm học 2009 – 2010)

Với những thành tích đạt được trong giảng dạy và học tập nhà trường luôn được xếp vào tốp đầu của hệ thống bậc học THPT, năm 2008- 2009 được xếp thứ 15, đến năm 2009 - 2010 được xếp thứ 16/102 trường THPT trong toàn tỉnh.

Với sự lớn mạnh của chi bộ Đảng nhà trường, ngày 16 tháng 3 năm 2009 Huyện uỷ Tĩnh Gia đã ra quyết định số 355 QĐ/HU thành lập Đảng bộ trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1. Đây là một sự kiện hết sức trọng đại đánh dấu sự phát triển vững mạnh suốt chặng đường nửa thế kỷ xây dựng và phát triển của Trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1.

Công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn này có nhiều thành tích xuất sắc. Đoàn trường đã làm tốt việc tổ chức, triển khai thực hiện các cuộc vận động, các phong trào như: thanh niên vì cuộc sống cộng đồng, phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao …. Ngoài việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đoàn viên, Đoàn trường còn tích cực vận động đoàn viên tham gia các chương trình, quỹ tình nghĩa, quỹ nhân đạo từ thiện… do UBMTTQ tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá, Huyện ủy, UBND huyện Tĩnh Gia phát động, năm 2005 - 2006, trong phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn" Đoàn trường đã quyên góp tiền xây nhà cho mẹ liệt sĩ Lê Thị Lài ở xã Hải Hoà, với số tiền là hơn 5.000.000đ, quyên góp xây dựng khu di tích huyện Đảng bộ và quỹ nghĩa tình biên giới hải đảo được 2.500.000đ. Năm 2006 -2007, trong đợt quyên góp ủng hộ đồng bào bị cơn bão số 6 tàn phá, Đoàn trường đã quyên góp được 1.000.000đ ủng hộ cho trường Trung học Huỳnh Ngọc Huệ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, trong chương trình "chia khó với vùng cao" do Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hoá phát động cũng đã quyên góp được 16.000.000đ

Về xây dựng cơ sở vật chất, nhà trường đã bám sát vào các chủ trương của cấp trên, xin hỗ trợ từ các nguồn khác nhau để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Từ năm 2005 tới nay, ngoài tu bổ, sửa chữa các công trình xuống cấp, nhà trường đã đưa vào sử dụng dãy nhà 3 tầng với 24 phòng học vào năm 2007, nhà hiệu bộ vào năm 2010. Như vậy, cho đến nay trường có 42 phòng học, hơn 10 phòng chức năng như phòng thiết bị, phòng bộ môn, thư viện, truyền thống… đều là cao tầng. Khuôn viên nhà trường rộng 26.820m2, trong đó sân bãi tập thể dục thể thao - giáo dục quốc phòng rộng 3000m2, trong đó có 800m2 được bê tông hoá làm sân bóng rổ, bóng chuyền và cầu lông. Các công trình phụ trợ khác đảm bảo phục vụ cho giảng dạy – học tập và sinh hoạt.

Với những thành tích đạt được trong hoạt động giáo dục từ năm 2005 tới nay, trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 vinh dự được công nhận tập thể lao động xuất sắc, được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen (2006, 2007, 2009). Thủ tướng tặng Bằng khen (2009); Giám đốc Sở tặng Giấy khen (2010), năm học 2009 - 2010 được UBND tỉnh Thanh Hoá tặng cờ thi đua đơn vị xuất sắc khối các trường THPT. Đặc biệt trong năm học 2010 – 2011, nhà trường được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất, Bằng công nhận trường chuẩn Quốc gia, thầy Hà Trọng Tân được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, học sinh Phạm Minh Tâm đạt giải Nhì kỳ thi quý “Đường lên đỉnh Olympia năm 2011” và giải Nhất kỳ thi Giải toán trên máy tính cầm tay Casio cấp Quốc gia, cô Ngô Thị Thanh được Bộ trưởng Bộ GD & ĐT tặng Kỷ niệm chương về thành tích đào tạo học sinh Giỏi.

Ngày 18 tháng 11 năm 2011, trường THPT Tĩnh Gia 1 long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và Bằng công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia. Lễ kỷ niệm đã đánh dấu mốc son rực rỡ của chặng đường nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành của nhà trường, tôn vinh truyền thống vẻ vang mà các thế hệ thầy và trò nhà trường đã dày công vun đắp.

V. Trường Trung học Phổ thông Tĩnh Gia 1 tiếp tục đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời kỳ mới (từ 2011 đến nay)

Sau ngày kỷ niệm 50 năm thành lập trường đến nay, thầy và trò nhà trường đã không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang của nhà trường, tiếp tục triển khai thực hiện các biện pháp phù hợp, hiệu quả nhằm không ngừng duy trì thế ổn định và ngày càng nâng cao về chất lượng giáo dục toàn diện với những thành tích nổi bật. Năm học 2012 – 2013, thầy Hà Trọng Tân, (Hiệu trưởng nhà trường từ năm 2007 đến năm 2016) vinh dự được phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”; từ năm học 2013 – 2014 đến nay (2019) nhà trường có 17 giáo viên được Sở GD & ĐT công nhận danh hiệu “Giáo viên giỏi cấp tỉnh”, nhiều thầy cô giáo được đào tạo trên chuẩn. Đội tuyển thi học sinh giỏi  cấp tỉnh đạt nhiều thành tích xuất sắc, năm học 2013-2014 được xếp trong nhóm 10 trường đứng đầu tỉnh, năm học 2018-2019 được xếp thứ 13 toàn tỉnh.

Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường từ năm học 2011-2012 đến nay ổn định và có chiều hướng phát triển tốt. Nhà trường đặc biệt coi trọng công tác giáo dục học sinh cả về chất lượng đại trà, mũi nhọn và giáo dục đạo đức, kỹ năng sống. Từ năm học 2017-2018 đến nay, nhà trường không có học sinh vi phạm điều lệ đến mức phải xử lý kỷ luật, đặc biệt không xảy ra các hành vi gây gổ, đánh nhau, vô lễ với giáo viên. Các hoạt động hướng nghiệp, ngoài giờ lên lớp được tổ chức có chất lượng góp phần quan trọng trong công tác tư vấn hướng nghiệp, giáo dục truyền thống và bồi dưỡng kỹ năng sống cho học sinh.

Quy mô nhà trường ngày càng tăng, năm học 2018-2019 nhà trường có quy mô 43 lớp với gần 1800 học sinh và 101 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trường được UBND Huyện Tĩnh Gia cấp thêm hơn 600m2 đất tiếp giáp với nhà trường nâng tổng diện tích khuôn viên nhà trường đạt gần 27000m2 tạo điều kiện cho nhà trường quy hoạch, cải tạo khuôn viên phục vụ dạy học và các hoạt động khác.

Kế thừa và phát huy truyền thống, thành tựu của nhà trường, tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh Tĩnh Gia 1 đã và đang quyết tâm giữ vững danh hiệu trường chuẩn quốc gia, xây dựng nhà trường lớn mạnh về mọi mặt, xứng đáng là trường có bề dày lịch sử truyền thống, là lá cờ đầu của giáo dục huyện Tĩnh Gia, đóng góp phần xứng đáng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước và hướng tới chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập trường (1961 – 2021)

(Tài liệu này được biên soạn từ cuốn “Trường trung học phổ thông Tĩnh Gia 1 – 50 năm xây dựng và trưởng thành”, có bổ sung cập nhật mới một số thông tin từ năm 2011 đến tháng 9 năm 2019.)                                                                              

- BAN BIÊN TẬP -